Thứ ba, 19/11/2013 - 15:43:10

Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi nuôi theo phương thức thả vườn tại Minh Tân - Kiến Thụy - Hải Phòng

Ngày nay, đời sống kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu về thực phẩm không ngừng tăng cao. Trước các yêu cầu đó của người tiêu dùng, các nhà khoa học đã nghiên cứu, lai tạo được nhiều giống gà mới có năng suất cao và chất lượng tốt, trong đó có giống gà lai Chọi. Khi nghiên cứu, đánh giá khả năng sản xuất thịt của giống gà lai Chọi trong điều kiện chăn nuôi tại ngoại thành Hải Phòng, chúng tôi thu được các kết quả: Tỷ lệ nuôi sống của gà lai Chọi đạt 98,13%; khối lượng gà ở 14 tuần tuổi đạt 2047,00 g/con; sinh trưởng tuyệt đối bình quân đạt 21,19g/con/ngày.

Dưới đây là bài báo khoa học “Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi nuôi theo phương thức thả vườn tại Minh Tân - Kiến Thụy - Hải Phòng” của TS. Giang Hồng Tuyến - Phòng QLKH và CGCN, Đại học Dân lập Hải Phòng

Abstract

 Data from 160 Choi hybrid chickens rearing in Minh Tan - Kien Thuy - Hai Phong were used for alive rate and bodyweight traits studying. The results showed that: Alive rate from 1-14 weeks was high (98.13%). Bodyweight average  was 2047.00g in 14 weeks. Average daily gain in 14 weeks were  21.19 g/day.

1. Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi gia cầm từ lâu đã gắn bó với đời sống của người nông dân và đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt, trứng cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Ngày nay, đời sống kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu về thực phẩm không ngừng tăng cao, không những yêu cầu tăng về số lượng mà chất lượng thịt và trứng cũng phải được tăng cao. Trước các yêu cầu đó của người tiêu dùng, trong những năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu, lai tạo được nhiều giống gà mới có năng suất cao và chất lượng tốt để đưa vào sản xuất trong đó có giống gà lai Chọi. Để đánh giá khả năng sản xuất thịt của giống gà lai Chọi trong điều kiện chăn nuôi tại ngoại thành Hải Phòng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi nuôi theo phương thức thả vườn tại Minh Tân - Kiến Thụy - Hải Phòng”.

2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1. Nội dung nghiên cứu

- Tỉ lệ nuôi sống của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

- Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng 160 gà lai Chọi một ngày tuổi (80 trống và 80 mái) để theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống và các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng. Gà được nuôi nhốt ở 3 tuần đầu và từ tuần thứ 4 được thả tự do. Thời gian nuôi là 14 tuần. Cân khối lượng gà hàng tuần để xác định các chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng.

Số liệu thu thập được xử lý bằng chương trình SAS (1999).

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Tỷ lệ nuôi sống

Trong chăn nuôi gà, tỷ lệ nuôi sống là chỉ tiêu quan trọng cần được quan tâm đầu tiên, tỷ lệ nuôi sống phản ánh sức sống, tình trạng sức khoẻ, khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh của gà. Tỷ lệ nuôi sống ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và giá thành sản phẩm. Muốn đạt hiệu quả nuôi sống cao cần phải có giống tốt thực hiện nghiêm chỉnh quy trình vệ sinh thú y, phòng trừ dịch bệnh đảm bảo cho con giống phát huy hết tiềm năng di truyền. Tỷ lệ nuôi sống của gà lai Chọi được trình bày ở bảng 3.1.

Số liệu bảng 3.1 cho thấy, gà có tỷ lệ nuôi sống cao, đạt 100% trong tuần đầu tiên sang tuần thứ 2 còn 99,38% do trong tuần co 1 con bị chết do bị hở rốn. Từ tuần 2 sang tuần 3 tỉ lệ nuôi sống con đạt 98,74% do trong tần có 2 con chết. Tỉ lệ nuôi sống trung bình qua các tuần tuổi của gà thay đổi từ tuần 1 là 100% đến tuần 3 còn 98.513% và ổn định tới khi kết thúc thí nghiệm. Để đạt được tỷ lệ nuôi sống cao như  vậy, theo chúng tôi, bên cạnh việc chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, giữ cho chuồng trại và nơi chăn thả luôn khô ráo, sạch sẽ thì việc phòng trị bệnh cho gà có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống.

Các kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu 94,50-98,54% của tác giả Trần Kim Nhàn và cộng sự (2010) khi nghiên cứu trên đàn gà VCN-G15, Ai cập và con lai của chúng; cao hơn kết quả 96,11-97,78 % của Diêm Công Tuyên và cộng sự (2010) nghiên cứu trên gà lai 3/4 Ai Cập; cao hơn kết quả 94,31-96,14 % của Phạm Công Thiếu và cộng sự (2010) nghiên cứu trên gà H’Mông.

Qua đây có thể khẳng định gà lai Chọi thương phẩm thích nghi với phương thức nuôi thả vườn trong điều kiện miền Bắc Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng. Điều này cho thấy, gà lai chọi hoàn toàn có thể triển khai rộng vào các nông hộ để nuôi đại trà và cũng khẳng định quy trình nuôi dưỡng  và chăm sóc là khá phù hợp. Đây là cơ sở để phát triển giống gà lai Chọi trong nông hộ.

Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà lai Chọi qua các tuần tuổi

Tuần tuổi

Số con

đầu tuần

Số con

cuối tuần

Tỉ lệ nuôi sống của gà 

trong các tuần tuổi (%)

Tỉ lệ nuôi sống TB của gà 

qua các tuần tuổi (%)

1

160

160

100

100

2

160

159

99,38

99,38

3

159

157

98,74

98,13

4

157

157

100

98,13

5

157

157

100

98,13

6

157

157

100

98,13

7

157

157

100

98,13

8

157

157

100

98,13

9

157

157

100

98,13

10

157

157

100

98,13

11

157

157

100

98,13

12

157

157

100

98,13

13

157

157

100

98,13

14

157

157

100

98,13

3.2. Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

3.2.1. Khả năng sinh trưởng tích lũy

Sinh trưởng tích luỹ hay khả năng tăng khối lượng của cơ thể qua các tuần tuổi là một chỉ tiêu quan trọng được các nhà chọn giống quan tâm. Đối với gà thịt thì đây là chỉ tiêu để xác định năng suất thịt của đàn gà, đồng thời cũng là biểu hiện khả năng sử dụng thức ăn của đàn gà qua các thời kỳ sinh trưởng của chúng. Độ sinh trưởng tích luỹ càng tăng thì càng rút ngắn thời gian nuôi, giảm được chi phí thức ăn, nâng cao hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế khả năng sinh trưởng của gà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, thời tiết, khí hậu và thích nghi của gà đối với môi trường.

Để theo dõi khối lượng của gà lai Chọi qua các tuần tuổi, chúng tôi cân gà vào ngày thứ 6 hàng tuần. Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng tích luỹ của gà được thể hiện ở bảng 3.2.

Bảng 3.2. Khả năng sinh trưởng tích lũy của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

Tuần tuổi

n(con)

LSM (g)

SELSM

1

160

120,04

1,14

2

159

231,40

2,39

3

157

342,00

2.68

4

157

475,50

3,54

5

157

616,10

6,85

6

157

759,80

8,63

7

157

872,60

9,52

8

157

1006,00

9,32

9

157

1175,00

11,46

10

157

1378,00

14,50

11

157

1625,00

12,90

12

157

1816,00

14,39

13

157

1964,00

13,00

14

157

2047,00

14,77

Qua bảng số liệu cho thấy: Sinh trưởng tích luỹ của gà đều tuân theo quy luật tăng dần qua các tuần tuổi. Tuy nhiên, qua bảng và đồ thị ta thấy, ở các tuần đầu sự sinh trưởng tích luỹ là cao và đều nhưng đến tuần thứ 11 trở đi sự sinh trưởng bắt đầu giảm dần, do gà mái ở giai đoạn này bắt đầu giảm khả năng tăng khối lượng. Khối lượng của toàn đàn tính trung bình đến tuần 14 đạt 2047,00 g.

Các kết quả trong nghiên cứu này cao hơn các kết quả nghiên cứu từ tuần 1 đến tuần thứ 12 của tác giả Hồ Xuân Tùng và cộng sự (2010) khi nghiên cứu trên gà Mía và gà Móng lai.

 

Đồ thị 3.1. Khả năng sinh trưởng tích lũy của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

3.2.2. Khả năng sinh trưởng tuyệt đối

Chúng tôi tiến hành theo dõi diễn biến khối lượng cơ thể của gà theo các tuần tuổi, trên cơ sở đó tính toán chỉ tiêu tăng khối lượng tuyệt đối của đàn gà và thu được kết quả bảng 3.3.

Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

Tuần tuổi

N(con)

Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)

1

160

-

2

159

15,92

3

157

16,55

4

157

19,07

5

157

20,40

6

157

19,97

7

157

16,40

8

157

19,02

9

157

24,07

10

157

29,65

11

157

34,46

12

157

27,80

13

157

20,73

14

157

12,36

TB

157

21,26

Số liệu ở bảng 3.3 cho thấy sinh trưởng tuyệt đối của đàn gà lai Chọi tuân theo đúng quy luật sinh trưởng của gia cầm tăng nhanh từ 1 tuần tuổi đến 11 tuần tuổi sau đó chậm dần. Sinh trưởng tuyệt đối đạt đỉnh cao ở tuần thứ 11đạt 34,46 g/con/ngày, ở tuần thứ 7 và 8 do thời tiết thay đổi, nhiệt độ cao trời nắng nóng do vậy gà sinh trưởng chậm hơn so với hai tuần trước vì vậy sinh trưởng tích luỹ bị giảm chỉ đạt 16,40 g/con/ngày ở tuần 7 và bắt đầu tăng dần trở lại vào tuần thứ 8. Sinh trưởng tuyệt đối bình quân trong cả giai đoạn nuôi (1 - 14 tuần tuổi) là 19,73 g/con/ngày.

Qua biểu đồ 3.1. ta thấy, gà sinh trưởng ổn định từ tuần thứ nhất đến tuần thứ 4, sang tuần thứ 5 và 6 tăng trưởng giảm do ngoại cảnh tác động. Từ tuần 7 sang tuần 8 thì gà dần phát triển bình thường, lúc này thời tiết ổn định và ít chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh kết hợp với chăm sóc và vệ sinh thú y tốt. Từ tuần thứ 14 trở đi, khả năng sinh trưởng tuyệt đối của gà bắt đầu giảm do gà mái giai đoạn này tăng trưởng thấp. Từ tuần thứ 15 trở đi gà mái hầu như không tăng khối lượng, gà mái đã đủ lông chuyển sang giai đoạn phát dục, thời điểm này là thời điểm xuất bán thích hợp nhất.


Biểu đồ 3.1. Sinh trưởng tuyệt đối của gà lai Chọi qua các tuần tuổi

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

Tỷ lệ nuôi sống của gà lai Chọi đạt 98,13%.

Tình hình sinh trưởng của đàn gà lai Chọi tương đối tốt và ít biến động:  Khối lượng gà ở 14 tuần tuổi đạt 2047,00 g/con. Sinh trưởng tuyệt đối bình quân đạt 21,19g/con/ngày, đạt cao nhất ở tuần 11 là 34,46 g/con/ngày.

4.2. Đề nghị

Tiếp tục tiến hành thí nghiệm ở các mùa vụ khác nhau để tìm ảnh hưởng của mùa vụ và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất của gà lai chọi nuôi tại Hải Phòng.

Có thể nhân rộng và sản xuất trong các nông hộ với quy mô nuôi vừa và nhỏ tại các trang trại và gia trại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Kim Nhàn, Phạm Công Thiếu, Vũ Ngọc Sơn, Hoàng Văn Tiệu, Diêm Công Tuyên, Nguyễn Thị Thúy, Nguyễn Thị Hồng (2010), “Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà VCN-G15 với gà Ai Cập”, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, phần Di truyền giống vật nuôi, tr. 288-297.

2.  SAS (1999), User’s Guide, Version 8.0, fourth edition, SAS Institute Inc., NC. USA.

3.  Phạm Công Thiếu, Vũ Ngọc Sơn, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Viết Thái và Trần Kim Nhàn (2010), “Chọn lọc nâng cao năng suất chất lượng gà H’Mông”, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, phần Di truyền giống vật nuôi, tr. 269-279.

4.  Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Huy Đạt, Vũ Chí Thiện, Trần Văn Phượng, Nguyễn Huy Tuấn, Nguyễn Thị Thu Huyền (2010), “Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Móng, gà Mía với gà Lương Phượng”, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, phần Di truyền giống vật nuôi, tr. 225-235.

5.  Diêm Công Tuyên, Phạm Công Thiếu, Vũ Ngọc Sơn, Hoàng Văn Tiệu (2010), “Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà mái 3/4 Ai Cập”, Báo cáo khoa học Viện Chăn nuôi, phần Di truyền giống vật nuôi, tr. 262-269.

Nội dung đính kèm:  Khả năng sinh trưởng của gà lai Chọi nuôi theo phương thức thả vườn tại Minh Tân - Kiến Thụy - Hải Phòng.pdf

Phòng QLKH&CGCN
Chia sẻ :

♦ Ý kiến của bạn:

© 2013 Đại học Dân Lập Hải Phòng. Thiết kế và phát triển bởi Trung tâm Thông tin Thư viện.